Tag Archives: những khác biệt về con giáp

Tại sao Thỏ/Mèo trong 12 con giáp?

Trong số 12 con giáp đứng làm biểu tượng cho các năm âm lịch, giữa Việt Nam và Trung Quốc có sự khác biệt về 4 biểu tượng: thỏ/ mèo; bò/ trâu; cừu/ dê; lợn rừng/ lợn. Xung quanh vấn đề nguồn gốc của những khác biệt này đã và đang có những ý kiến không thống nhất. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông đã có những cách lý giải khá thú vị về chủ đề này trên cơ sở kết quả nghiên cứu ngữ âm học lịch sử và văn hóa học. Sau đây là những quan điểm của học giả này về lý do tại sao có sự khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc về con vật biểu tượng của năm nay – năm con Mèo.

Khi so sánh các con vật biểu tượng cho 12 con giáp, điểm khác biệt rõ nét nhất là người Việt Nam ta dùng con mèo cho chi Mão/Mẹo nhưng người Thái, Lào, Khme, Nhật, Hàn, Trung Quốc/TQ … đều dùng con thỏ. Đây là một cánh cửa hé mở khiến ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc tên gọi 12 con giáp, vì nếu chúng từ TQ thì khi nhập vào các nước hay dân tộc nào đó thì theo thói thường hệ thống ‘12 con giáp nguyên thuỷ’ vẫn được duy trì – như thỏ biểu tượng cho chi Mão chẳng hạn – và nếu có thay đổi thì không có là bao nhiêu như gà so với gà trống, dê so với cừu/trừu, heo/lợn so với heo rừng …v.v…

Theo học giả Nguyễn Cung Thông, nguồn gốc chữ Mão chẳng dính líu gì đến một loài vật nào, như thỏ chẳng hạn. Ông cho rằng cần phải nhìn lại vấn đề từ các góc độ khác nhau để có thể nhận ra được phần nào nguồn gốc chính xác và hợp lý hơn của Mão/Mẹo. Sau đây là những lập luận của ông:

1. Loài mèo được thuần hoá sớm hơn loài thỏ

Các xương mèo và người khai quật ở đảo Cyprus cho ta kết luận loài mèo đã sống chung với loài người và có khả năng được thuần hoá cách đây khoảng 9500 năm; So với loài thỏ thì thời kỳ thuần hoá không rõ rệt, nhưng ước đoán cách đây khoảng 3000 năm mà thôi. Điều này cũng phù hợp với di chỉ tìm thấy ở Điền Viên Động, gần Bắc Kinh) gồm có xương người, sơn dương, khỉ, nhím và mèo hoang. Ngoài ra, bản tin từ Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng cho ta biết về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Mèo còn rất thích hợp với xã hội nông nghiệp vì là loài động vật ăn thịt: nhà nông thường phải chứa (tồn kho) các sản phẩm vì thời tiết thay đổi bất thường, sau đó các kho hàng hoá này hấp dẫn các loài chuột, sâu bọ và ngay cả chim chóc cũng đến tìm lương thực và quấy phá … Đến nỗi nhà nông chúng ta phải ra lời ta thán:

Cái cò các vạc cái nông
Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò? (ca dao)

Mèo đã đến như vị cứu tinh để giải quyết vấn nạn trên; Khác hẳn với loài thỏ chỉ ăn rau cải và phá hoại mùa màng – như hiện nay, chính phủ Úc phải tìm các phương pháp hoá học (như dùng thuốc độc) hay sinh học (như cấy vi trùng bệnh) để kiểm soát dân số loài thỏ – thay vì săn bắn chúng một cách dã man. Loài thỏ thuần hoá không thể tồn tại khi nhiệt độ môi trường chung quanh lên trên 32oC, so với loài mèo có thể sống sót với môi trường ở nhiệt độ 52oC; Thân nhiệt của mèo thì từ 38oC đến 39oC tương thích với một xã hội nông nghiệp với khí hậu ôn hoà, còn thỏ lại là nguồn thực phẩm có lượng prôtêin cao cho xã hội du mục và săn bắn.

2. Tư duy nông nghiệp tổng hợp và cụ thể qua ngôn ngữ

Liên hệ Mão Mẹo và mèo rất dễ hiểu: các âm này đều thuộc thanh vực trầm (trọc) và nguyên âm e (của Mẹo/ mèo) là dạng cổ hơn của nguyên âm a (của Mão) như hè hạ (Hán Việt), xe xa, keo giao, vẽ hoạ, mè (vừng) ma, chè trà, beo báo …v.v… Tương quan tự nhiên còn thể hiện qua cách dùng lòng (bụng dạ) – bộ phận thấp nhất trong cơ thể con người – thay vì tim hay não bộ (óc): lòng tốt hay tốt bụng (hảo tâm HV), buộc lòng, mất lòng … Khi nhập vào tiếng Hán, lòng trở thành ‘đảm’: theo GS Axel Schuessler4 thì ‘đảm’ (膽) có gốc phương Nam (Nam Á, Austroasiatic) và một dạng âm cổ phục nguyên là *tlam?. Schuessler ghi nhận âm cổ Bahna Bắc/ProtoNorthBahnar là *klàm (gan/liver), tiền Việt-Mường/Proto Viet-Muong *lɔ:m, Katuic *luam hay dạng khác hơn với phụ âm đầu t- như tiền Palaunic/proto Palaunic *kơntɔ:m (gan). Tra thêm các ngôn ngữ láng giềng ta thấy klơm (gan, tiếng Kơho), tho-lom (gan, tiếng Khme) so với LÒNG tiếng Việt gồm các bộ phận như ruột, gan … ‘Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh’ còn dùng ‘lòng gan đều nát’ (lòng chữ Nôm thường dùng lộng (弄), làõ theo Việt Bồ La 1651) phản ánh tương quan can đảm (Hán) và lòng gan/ruột gan (Việt); Ngoài ra cách dùng lõm súng (lòng súng, nòng súng), lõm chuối, lõm cây (lòng cây)… cho thấy liên hệ trực tiếp giữa dạng LÒNG – LÕM, thật ra khi phát âm LÒNG bây giờ – tiếng Việt luôn đóng môi lại (môi hoá, như LÒNG) chứ không để môi mở như các dạng LONG của tiếng Anh, Pháp … Tiếng Mường (Bi) còn dùng ‘lòm’ là gan: ‘ho ưa ăn lòm củi’ (tôi thích ăn gan heo). ‘klơm là gan (tiếng Biat), k’lơm (gan, tiếng Boloven) …v.v… Tóm lại, ta có cơ sở đề nghị cấu trúc dạng cổ phục nguyên *tlam? hay *klam? đã nhập vào tiếng Hán cho ra dạng ‘đảm. Trường hợp âm cổ phương Nam *tlam?/klam? (lòng, một lòng) trở thành đảm (can đảm, đảm lược …) khi nhập vào tiếng Hán không phải là hiếm, ta còn có những trường hợp như *krong (sông) khi nhập vào tiếng Hán trở thành *kong hay jiāng BK (giang HV), …v.v… Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý Sửu Dần … Mão … Tuất Hợi khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can); Đây cũng là một lợi thế của nhóm thống trị có chữ viết sẵn (chữ Hán) và khả năng tổ chức. Lợi thế của một hệ thống chữ viết có sẵn như chữ ô vuông (chữ Hán) có thể là chỉ thêm một dấu phẩy nhỏ mà nghĩa lại đổi hẳn đi. Hiện tượng ‘thay đổi chữ viết’ một cách thâm thuý6 trên có thể giải thích được chữ thố/thỏ (兔) đã dùng thay cho chữ miễn/*mãn/ vãn (免) – âm *mãn đã từng có nghĩa là mèo trong tiếng Việt7. Sự lẫn lộn8 giữa mèo và thỏ còn thấy trong cách dùng ‘dã miêu’ để chỉ loài thỏ hoang9 và mèo hoang trong văn hoá TQ và đáng được đào sâu hơn.

3. Lẫn lộn giữa các loài mèo và thỏ … trong văn hoá TQ

Thố tôn (thỏ tôn) là loài mèo hoang đang từ từ biến mất: loài thú này ở Trung Á, Tây Bá Lợi Á, Kashmir, Nepal, Thanh Hải , Nội Mông Cổ , Hà Bắc , Tứ Xuyên , Tây Tạng , Tân Cương … Khi người Hán tràn xuống phía Nam và Tây, ta thấy hiện tượng lẫn lộn ‘trông/nhìn mèo ra thỏ’ (trông gà hoá cuốc) như cách gọi Thố tôn này: các lẫn lộn trên giải thích được phần nào tại sao chi thứ tư Mão/ Mẹo liên hệ đến mèo chứ không phải là thỏ từ nguyên thuỷ.
Thố tôn còn được gọi là ‘dương xá lị’, ‘ô luân’, ‘mã não’, ‘mã não tặc’ … ‘Xá lị’ là loài mèo hoang (lynx).
Miêu là từ HV nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo; Dữ kiện này hỗ trợ cho khả năng Mão chỉ là một cách ký âm của một tiếng nước ngoài (tiếng Việt cổ) nhập vào tiếng Hán.
‘Sạn’/’sàn’ theo Ngọc Thiên cũng là mèo. Sạn/sàn chỉ loài mèo hoang có vằn.
‘Thố’/’thỏ’ nghĩa cổ là một loài chim.
‘Vãn’ hay *’mãn’ (chữ hiếm) chỉ một loài cây theo cổ thư TQ; Nhưng giọng Hẹ lại đọc là t’u2 (như âm thổ) – so với hai âm mãn (mèo) và thố/thỏ.

4. Các cách giải thích khác nhau

Để hiểu tại sao người Việt lại dùng mèo cho chi Mão, một cách giải thích thường gặp10 trong tài liệu TQ là âm Mão khi nhập vào tiếng Việt đọc giống như mèo hay miêu HV nên người Việt dùng mèo làm biểu tượng thay vì thỏ. Điều này không hợp lý vì các lý do sau:

4.1 Mèo là ‘maew’ (tiếng Thái), ‘maaw’ (Lào) … nhưng thỏ lại là loài vật biểu tượng cho chi Mão ở Thái, Lào! Điều lầm lẫn giữa Mão và mèo lại càng rất khó xẩy ra khi đất Giao Chỉ có những liên hệ rất gần với các triều đại phương Bắc (Hán … Đường) so với các dân tộc khác ở phía tây Giao Chỉ.

4.2 Nếu mèo đọc gần như Mão và được dùng làm loài vật tượng trưng cho chi thứ tư này, rất khó giải thích tại sao ‘nga’ (ngỗng trời … cò biển) gần gũi với dân ta (đánh cá, gần biển …), đọc gần giống âm cổ *ngwa của ‘Ngọ’, lại không là loài vật biểu tượng cho chi Ngọ? Còn âm cổ ‘Mùi’ (Vị) của chi thứ tám đọc gần với âm ‘muỗi’, tại sao người Việt lại dùng ‘dê’ chứ không là ‘muỗi’ … và còn nhiều các âm giống khác nữa ….v.v… Ngoài ra, tuy chữ Nôm còn quá ‘trẻ’ để phân tích liên hệ ngữ âm của tên gọi 12 con giáp, nhưng cũng có vài điểm đáng chú ý là ‘mèo’ (cũng như ‘meo’) thường dùng chữ ‘miêu’ HV như:
‘Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo’ (Bạch Vân Thi Tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585)
Nhưng ‘méo’ thì chữ Nôm dùng ‘Mão’ (có khi cộng thêm dấy nháy)
‘Tròn tròn méo méo in đòi thuở’ (Hồng Đức Quốc âm Thi Tập, soạn bởi quần thần và Lê Thánh Tông 1442-1497).
Do đó, hai âm ‘Mão’ và ‘mèo’ đã có sự phân biệt ít nhất từ thời nhà Lê, và xác suất nhầm lẫn giữa ‘Mão’11 (âm Hán trung cổ, nhập ngược vào VN khoảng từ thời Đường Tống) và ‘mèo’ (âm thượng cổ) trong tiếng Việt rất nhỏ!

4.3 Khuynh hướng tổng quát và tự nhiên của chữ viết loài người tiến hoá từ cụ thể và đơn giản đến trừu tượng12. Thí dụ như tên gọi các loài vật được dùng với nghĩa mở rộng hơn, trừu tượng hơn như mặt chuột (so với mặt rồng), thân trâu ngựa, ăn như mèo ngửi, tính tình như rắn rít … Thành ra, suy luận từ âm ‘Mão’ cho ra ‘mèo’ thì không phù hợp với khuynh hướng tự nhiên; Đáng lẽ là từ ‘mèo’ (loài vật, cụ thể) cho ra âm ‘Mão’ (hệ thống ghi thời gian, trừu tượng, bói toán/số mệnh) mới hợp lý hơn. Hệ thống gọi tên các con vật cụ thể (đơn giản) và rất gần gũi với nhà nông khi nhập vào văn hoá Hán đã trở thành hệ thống ghi nhận thời gian, bói toán (trừu tượng, phức tạp); Hệ thống 12 con giáp này cùng khởi sắc khi văn hoá Hán phát triển cực mạnh (Tần, Hán … Đường, Tống …) và ảnh hưởng đến các khu vực chung quanh, đây lại là hiện tượng nhập ngược mà ít người ý thức được trong trường hợp Việt Nam.

4.4 Có những cách giải thích không có cơ sở khoa học, đầy cảm tính như sự thay đổi giữa mèo và thỏ là sự xuyên tạc sự thật13 , hoặc dựa vào những ‘huyền thoại’ không thể kiểm chứng khách quan được: người viết chỉ ghi nhận vắn tắt ở đây mà thôi.
Từ những góc độ nhìn khác nhau như trên, ta thấy khả năng nguồn gốc tên gọi 12 con giáp có thể đến từ tiếng Việt cổ. Thật ra thì người Việt chúng ta không cần phải lý giải tương quan rất tự nhiên giữa ‘Mão’ ‘Mẹo’ và ‘mèo’, cũng như Tý/ chút *chuốt/ ‘chuột’, Ngọ/ ngựa, Hợi/ *Gỏi/ cúi (heo), Sửu/ *tlu/ trâu … Người Việt không phải dùng các từ ghép so với văn hoá TQ như Mão Thố, Tý Thử, Sửu Ngưu để giúp ta nhớ đến tương quan Mão/mèo, Tý/chuột, Sửu/ tlu/trâu ….. Chính các ngôn ngữ hay dân tộc nào dùng thỏ thay vì mèo cho chi Mão/ Mẹo mới cần phải giải thích sự khác biệt này: đây là sự vay mượn hay cố tình thay đổi? …. Không phải là hoàn toàn nghịch lý khi tổ tiên còn dặn dò con cháu rằng:

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Lê Đình Tư giới thiệu
(Nguồn: http://www.khoahoc.net)

_____________________________________________________