Sinh con theo phương pháp nào?

Nhiều thai phụ muốn con mình sinh ra theo lối sinh thường, nhưng bản thân lại vô cùng lo sợ những cơn đau đẻ (có thể do nghe từ người khác kể lại, hoặc cũng có thể có kinh nghiệm từ lần sinh trước), hoặc bị huyễn hoặc bởi những tin đồn kỳ quặc khác. Chính vì vậy, ở Việt Nam càng ngày càng có nhiều phụ nữ quan tâm đến phương pháp “mổ đẻ” và “đẻ không đau”.

Mổ đẻ để chọn ngày sinh

Hiện nay, việc mổ đẻ ở Việt Nam đang có xu hướng bị lạm dụng. Nếu như trên thế giới, chỉ có 15% sản phụ được chỉ định mổ lấy thai thì ở Việt Nam, tỷ lệ này hiện là 40% (ở một số nơi thuộc ĐBSCL là 60%). Việt Nam hiện được coi là nước có tỷ lệ mổ đẻ cao nhất thế giới. Tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP HCM, cứ 100 người sinh thì có trên 35 người mổ. Trong đó, gần 4% trường hợp được mổ theo theo yêu cầu, nghĩa là mổ lấy thai theo ý muốn của gia đình sản phụ, mặc dù thai nhi vẫn phát triển bình thường (khác với các trường hợp mổ can thiệp trước hoặc trong khi chuyển dạ để tránh tai biến khi sinh).

Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, cho biết, có nhiều nguyên nhân khiến sản phụ hoặc gia đình muốn sinh mổ:
– Chuyển dạ khó khăn, không ngừng rên đau khiến người nhà xót ruột.
– Sản phụ sợ đau, sợ bộ phận sinh dục giãn ra, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.
– Bị ám ảnh bởi lời phán của thầy bói, rằng sản phụ nếu không sinh mổ sẽ gặp tai biến chết người…
– Gia đình muốn đứa bé ra đời vào “ngày giờ tốt”.

Bác sĩ Nguyễn Song Nguyên, Phó trưởng khoa Sản, kể: “Có người, do tác động của thầy bói, đòi được mổ khi thai chỉ mới 35 tuần để lấy ngày tốt. Tôi tìm cách hoãn binh đến tuần thứ 38. Ba tuần ấy đối với tôi dài như một thế kỷ; bởi nếu có tai biến gì trong thời gian này thì tôi cũng khó mà ăn nói với họ. Hiện nay, ngày nào tôi cũng ký từ 2 đến 3 lá đơn xin sinh mổ. Họ nài nỉ quá, đành chịu”.

Đối với nhiều bác sĩ, mổ đẻ được xem là một giải pháp an toàn, giúp họ tránh những rắc rối có thể xảy ra trong thời gian theo dõi thai nghén và sinh nở. Bác sĩ Phượng cho biết, 2/3 tai biến trong chuyển dạ là không thể tiên lượng được. Hễ có thai là có nguy cơ, hoặc nhiều, hoặc ít. Có những tai biến chỉ xuất hiện khi chuyển dạ như sa dây rốn, tim thai suy, thuyên tắc ối. Vì vậy, việc sinh đẻ tự nhiên có nguy cơ gây bất lợi cho cán bộ y tế nếu việc tư vấn và theo dõi sản phụ chưa được thực hiện sát sao. Ngoài ra, nhiều bác sĩ không ngại mổ đẻ còn vì vấn đề kinh phí. Tiền phí cao nhất cho một ca sinh tự nhiên chỉ khoảng 500.000 đồng, trong khi mỗi ca sinh mổ theo yêu cầu giá 1,3 triệu đồng (tại các bệnh viện tư, chi phí này có thể cao gấp đôi, gấp ba).

Thủ thuật mổ đẻ chỉ mang lại lợi ích ít ỏi là giúp cuộc sinh nở diễn ra nhanh gọn (khoảng 30-45 phút), bác sĩ không phải theo dõi nhiều, người nhà tránh được sự chờ đợi căng thẳng. Còn cái hại mà nó gây ra lại khá lớn. Ngoài những nguy hiểm kể trên, sản phụ còn có thể gặp tai biến khi gây tê, gây mê, đã có trường hợp tử vong do sốc ngay trước khi mổ. Những người sinh mổ cũng có nhiều nguy cơ nhiễm trùng sau đó. Mặt khác, do phải uống một lượng lớn kháng sinh để chống nhiễm trùng nên khả năng tiết sữa của họ giảm nhiều, ảnh hưởng đến sức khỏe đứa bé.

Vì lẽ đó, các bác sĩ thường khuyên phụ nữ mang thai nên “biết chờ đợi và can thiệp đúng lúc”, tốt nhất là sinh nở theo cách tự nhiên nếu không có chỉ định khác của bác sĩ. Tại Bệnh viện Từ Dũ, ngay cả với các ca thụ tinh trong ống nghiệm (vốn cần sự can thiệp để bảo vệ “đứa bé đặc biệt”), một số bà mẹ vẫn được bệnh viện “tiếp sức” để sinh theo cách tự nhiên.

“Thế nào là đẻ không đau”

Kỹ thuật “đẻ không đau” là phương pháp gây tê ngoài màng cứng, tức là tiêm thuốc gây tê vào cùng cột sống ở thắt lưng (vùng này chứa các dây thần kinh chi phối các cảm giác đau từ vùng bụng trở xuống). Nhờ tác dụng của thuốc tê, các cơn co tử cung vẫn xảy ra đều đặn và thúc đẩy cuộc chuyển dạ nhưng sản phụ sẽ không có cảm giác đau đớn.

Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh này đã được ứng dụng thành công tại nhiều bệnh viện. Phương pháp này có ưu điểm là giúp sản phụ tiết kiệm sức để rặn đẻ tốt hơn vì không phải trải qua những cơn chuyển dạ đau đớn. Thuốc tê có thể kéo dài để giảm đau sau đó nhiều giờ, và không ảnh hưởng đến em bé vì nó không qua nhau thai.

Trong quá trình sinh nở, nếu sản phụ không thể tự sinh thường thì bác sĩ sẽ chỉ định sinh mổ để an toàn cho cả mẹ và con. Khi phải sinh mổ, chỉ cần thêm liều thuốc tê qua đường truyền để giảm đau trong lúc mổ.

Ai không thể dùng phương pháp “ đẻ không đau”?

Để thực hiện một ca đẻ không đau, bác sĩ sản khoa sẽ phải khám thật chi tiết cho sản phụ để biết về tiểu sử bệnh lý, tình trạng chuyển dạ, tình trạng cơn co và xem có phù hợp với phương pháp sinh này không.
Phương pháp sinh này phù hợp với các sản phụ có các bệnh như tăng huyết áp, bệnh tim…, nhưng lại không được áp dụng cho các sản phụ có bệnh lý liên quan đến cột sống, rối loạn đông máu hoặc đang có tình trạng nhiễm trùng…

Các tác dụng phụ có thể gặp

Khi áp dụng phương pháp sinh thường không đau, một số sản phụ có thể gặp trạng thái chóng mặt, ớn lạnh hay lạnh run, buồn nôn, nôn hay khó vận động chân ngay sau khi tiêm thuốc. Một số trường hợp có thể bị nhức đầu nhẹ, đau lưng trong thời kì hậu sản. Nhưng các triệu chứng này không nguy hiểm và sẽ tự hết sau vài giờ. Hiếm hơn, một số người có thể có cảm giác lạ vùng mông, đùi (như kiến bò, rát bỏng) trong thời gian ngắn hậu sản và sau đó sẽ tự khỏi.

(sưu tầm)
_________________________________________

Post a comment or leave a trackback: Trackback URL.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: